Vũ khí trong tương lai: Các đối thủ khiến Lầu Năm Góc phải tăng nguồn tài trợ cho nghiên cứu vũ khí siêu thanh

Bộ Quốc phòng Mỹ đang tìm kiếm thêm nguồn tài chính để đầu tư vào các chương trình siêu thanh như Trung Quốc và Nga để đẩy mạnh phát triển công nghệ.

Các khoản đầu tư đề xuất bao gồm tài trợ cho vũ khí tấn công và cả các phương tiện mà họ đã bị các đối thủ cạnh tranh vượt qua trong việc thành công tạo ra tên lửa hoặc máy bay có khả năng đạt tốc độ cao hơn Mach 5.

Vào năm 2014, trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng cho nghiên cứu và kỹ thuật Alan Shaffer cho biết “Hoa Kỳ không muốn trở thành quốc gia thứ hai để hiểu cách kiểm soát siêu thanh”

Không quân Hoa Kỳ với sự tham gia của quân đội, Cơ quan Nghiên cứu Dự án Tiên tiến Quốc phòng và một số nhà thầu quốc phòng từ lâu nay đã bắt tay vào phát triển các loại đạn và máy bay có khả năng bay bằng hoặc nhanh hơn Mach 5 hoặc nhanh gấp 5 lần tốc độ âm thanh.

Trong khi đó, các nhà lãnh đạo và các nhà phân tích quân sự đã cảnh báo rằng Trung Quốc và Nga đã tăng ngân sách trong việc phát triển và thử nghiệm các dự án về siêu thanh trong những năm gần đây.

Lãnh đạo Lầu Năm Góc nhận định rằng siêu thanh là một phần của “third offset”- một danh sách các công nghệ tiên tiến giúp quân đội Mỹ duy trì lợi thế cạnh tranh với các đối thủ tiềm năng. Các phương tiện siêu thanh có khả năng xâm nhập vào các hệ thống phòng không mạnh mẽ do với tốc độ cao như vậy chúng sẽ khó bị ngăn chặn. Trung Quốc và Nga cũng cảnh giác với điều này.

Trong bài phát biểu đầu tiên với vai trò là thư ký Không quân Hoa Kỳ, Heather Wilson đã kêu gọi cần phải “đổi mới nhanh hơn và trở nên chặt chẽ hơn” đối với các công nghệ mới nổi, bao gồm cả siêu thanh.

Tại một sự kiện của Hiệp hội Không lực gần đây, cô cho biết “Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều quan tâm đến tốc độ đổi mới đang diễn ra ở các nước có tiềm năng”.

Chris Johnson, giám đốc cơ quan ngoại giao cho biết, ngân sách của Trump năm 2018 đã đề xuất 75,3 triệu USD cho Cơ quan phòng không chống tên lửa (MDA) cho “hoạt động phòng vệ siêu thanh”. Điều này sẽ cho phép MDA tăng cường các hoạt động kỹ thuật cho hệ thống phòng thủ siêu thanh, các cuộc thử nghiệm công nghệ và giảm rủi ro.

Trong một email được gửi gần đây, ông có nói “Các hoạt động sẽ bao gồm việc phòng vệ chống lại những kẻ giả mạo [phân tích các lựa chọn thay thế], phát triển lộ trình kế hoạch và đầu tư ban đầu vào các cuộc thử nghiệm công nghệ cảm biến và các loại vũ khí để giải quyết các mối đe dọa”,.

Ngân sách yêu cầu đã được đáp ứng bởi Đạo Luật Cấp Thẩm Quyền Quốc Phòng năm 2017 để thiết lập một chương trình như vậy. Một báo cáo năm 2016 của Ủy ban Nghiên cứu Không lực có tiêu đề “Mối đe dọa đối với toàn cầu về sức tấn công và sức mạnh của vũ khí động cơ tốc độ cao” đã phát hiện ra “không có một chiến lược hoạt động chính thức nào hay một biện pháp khẩn cấp nào” để phòng vệ trước những mối nguy hiểm đặt ra bởi vũ khí siêu thanh và các công nghệ mới nổi khác.

Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Không gian Vũ trang năm 2016 với tiêu đề “Vũ khí siêu thanh và An ninh Quốc gia Hoa Kỳ” cho biêt các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tiến hành ba cuộc thử nghiệm với Wu-14 vào năm 2014 và thêm hai lần vào năm 2015. Bên cạnh đó, Nga cũng nhắc lại về kế hoạch thử nghiệm vũ khí siêu nhiên mới vào năm 2020.

Trong một cuộc điều trần vào tháng 6 trước Ủy ban Dịch vụ Vũ khí Hạ viện, Phó Đô Đốc JD Syring, Giám đốc Cơ quan phòng không chống tên lửa, kêu gọi cần phải phát triển các khả năng phòng thủ bổ sung để ngăn chặn những hiểm họa từ kẻ thù nước ngoài, và phải chú ý rằng cả Trung Quốc và Nga đều đã công bố thành công vào năm 2016.

Ông nói, “Để giải quyết mối đe doạ từ siêu thanh, MDA sẽ thực hiện các cuộc thử nghiệm công nghệ cảm biến và vũ khí từ radar, máy bay không người lái tầm cao và sau đó là không gian”, ông nói thêm rằng cơ quan này đang có kế hoạch thực hiện hàng loạt công nghệ trên mặt đất, trên không và vũ trụ để theo dõi các mối hiểm họa này.

Todd Harrison, giám đốc dự án an ninh hàng không tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế cho biết, động thái này nhằm thúc đẩy sự phát triển của khả năng phòng thủ chống lại các vũ khí siêu thanh “một mối đe dọa thực sự tới môi trường”, điều đó đã thúc đẩy nhu cầu về các phương tiện tấn công siêu thanh và các hệ thống phòng thủ.

Harrison cho biết: Việt nghiên cứu và phát triển các công nghệ siêu thanh đã diễn ra trong hàng thập kỷ nhưng “ở mức tương đối thấp”. “Và đến nay, dựa trên những đánh giá tình báo mà họ nhận được, quân đội đã chú trọng đầu tư rất nhiều vào công nghệ này.”

Năm 2012, Không quân Hoa Kỳ đã chi gần 79 triệu USD cho công nghệ siêu thanh. Cũng theo Không quân Hoa Kỳ, ngân sách yêu cầu cho công nghệ này trong năm 2018 là trên 292 triệu USD, trong đó là 90 triệu đô-la cho việc tạo mẫu.

Các nỗ lực tập trung vào việc phát triển công nghệ cho một loại vũ khí tấn công tốc độ cao có thể được phóng ra từ máy bay chiến đấu và máy bay ném bom và bay với tốc độ siêu tốc đến mục tiêu dự định. Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không lực đang cộng tác với DARPA và NASA để thực hiện dự án này, bao gồm hai chương trình thử nghiệm là hypersonic air-breathing weapon concept (HAWC) và tactical boost glide (TBG)

Các chương trình phản ánh hai cách phát triển hiện tại đối với vũ khí và phương tiện siêu thanh. TBG là một quả tên lửa sẽ được đưa vào bầu khí quyển bởi một máy bay, sau đó được phóng ra và đạt đạt tốc độ bằng với Mach hoặc cao hơn. Lục quân Hoa Kỳ đã thử nghiệm một quả tên lửa dài được gọi là vũ khí siêu tốc tiên tiến vào năm 2011, nhưng hiện nay hộ không bình luận về bất kỳ hoạt động phát triển siêu thanh nào.

Theo NASA, phương pháp tiếp cận khác là đưa một hệ thống động cơ như động cơ đốt hoặc động cơ phản lực vào một chiếc xe tên lửa hành trình tầm xa để có thể bay với tốc độ gấp 15 lần tốc độ âm thanh.

DARPA và Cục Giám sát Vũ trụ của Phòng thí nghiệm Không quân đều từ chối bình luận về một trong hai chương trình này. Lockheed Martin, người hợp tác với các cơ quan trong chương trình HAWC, và Raytheon, người hỗ trợ chương trình TBG, cũng từ chối bình luận.

Bob Mercier, kỹ sư trưởng của bộ phận hệ thống tốc độ cao cho hàng không vũ trụ tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không lực, cho biết: “Các máy siêu thanh đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của AFRL vào giữa những năm 1990 khi mà Bộ trưởng Không quân Sheila Widnall đã thúc đẩy việc tạo ra một chương trình công nghệ để tiếp nối thành công của nó.”

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, ông nói rằng phòng thí nghiệm đã sớm tìm kiếm các ứng dụng gần đây cho công nghệ trong các hệ thống vũ khí, và tập trung nỗ lực ban đầu trong lĩnh vực đó.

“Nhưng chúng tôi cũng rất quan tâm đến các ứng dụng trung hạn và dài hạn, người ta có thể tạo ra một cái gì đó giống như một thiết bị [thông minh, giám sát và trinh sát], vũ khí loại lớn hơn … và một số ứng dụng tái sử dụng.”

Mercier cho biết, từ năm 2010 đến năm 2013, phòng thí nghiệm đã thực hiện một số chuyến bay siêu thanh với X-51 Waverider, một máy bay phản lực không người lái đồng phát triển bởi AFRL, NASA, DARPA, Boeing và Pratt và Whitney Rocketdyne – giờ là Aerojet Rocketdyne.

Theo báo cáo của Viện Mitchell, hai chuyến bay – một chuyến bay vào năm 2010 và một chuyến năm 2013 – đã đạt tốc độ Mach 5 trong vài phút. Chuyến bay năm 2013 đã thiết lập một kỷ lục cho chuyến bay siêu âm dài nhất từ trước đến nay. Waverider đã di chuyển hơn 230 hải lý chỉ trong hơn sáu phút sau khi được thả ra từ máy bay ném bom B-52, và thành công của nó “đã chứng minh rằng động cơ phản lực là khả thi”.

Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời ngoài việc kiểm tra phạm vi bay của Waverider, bao gồm kiểm soát và các vấn đề khí động học khác. Để trả lời những câu hỏi này, Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không lực, cùng với NASA và Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Quốc phòng Úc đã bắt đầu nghiên cứu các thử nghiệm về bay siêu âm, hay chương trình HiFIRE vào năm 2006.

David Adamczak, người đứng đầu của các dự án bay cho cuộc thử nghiệm HiFIRE của Hoa Kỳ cho biết mục tiêu của chương trình là thực hiện một số thí nghiệm bay siêu âm với chi phí thấp, từ 5 đến 10 triệu USD cho mỗi chuyến bay.

Ông cho biết thêm nhóm nghiên cứu hiện đang chuẩn bị thực hiện một cuộc thử nghiệm kiểm soát hàng không vào đầu tháng 7 tại Royal Australian Air Force Woomera Test Range ở miền Nam nước Úc.

Theo David “HiFIRE 4 … sẽ cho vận hành hai máy bay lượn tự do và thực hiện một số thao tác”. Một hệ thống chỉ đường và điều khiển đang được Boeing và Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Quốc phòng phát triển, còn một là do BAE Australia và DSTG xây dựng.

Adamczak cho biết chương trình HiFIRE tiêu tốn khoảng 94 triệu USD, cùng với sự tài trợ của quân đội Hoa Kỳ và Úc. Nó được lên kế hoạch để thực hiện trong năm 2018, nhưng được kỳ vọng sẽ mở rộng để tiếp tục chạy thử nghiệm bay.

Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Không quân dự đoán sẽ đưa ra một hệ thống vũ khí cho phép quân đội hoạt động trong môi trường cấm truy cập hoặc khu vực cấm vào khoảng những năm 2020. Mercier tin rằng một hệ thống vũ khí lớn hoặc một loại ISR không thể tái sử dụng hoặc một kiểu tấn công có thể được thả từ trên xuống, giống như máy bay không người lái Lockheed Martin’s 1970s-era D-21 có thể sẽ sẵn sàng vào những năm 2030.

Mercier cho biết các mục tiêu dài hạn bao gồm phát triển một phương tiện có thể cất cánh từ đường băng để thực hiện ISR hoặc tấn công vào những năm 2040, và sau đó là tiếp cận vũ trụ bằng một phương tiện air-breathing. “Nhưng nếu bạn không có một kế hoạch tầm xa, bạn sẽ không đạt được tiến bộ mà bạn muốn.”

Mặc dù với những tiến bộ của Lực lượng Không quân, Hoa Kỳ vẫn còn phải mất rất nhiều thời gian mới có thể chế tạo thành công vũ khí siêu thanh.

Theo nationaldefensemagazine

Facebook Comment